• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Dự án"Phát triển mô hình nuôi cá lúa": Hiệu quả "kép" sau 2 năm thực hiện


Sau 2 năm (2012-2013) triển khai dự án nuôi cá - lúa thực hiện tại 12 tỉnh/thành phố, kết quả đã mang lại hiêụ quả “kép”, đồng thời mở ra triển vọng giúp nông dân nâng cao hiêụ quả sản xuất trên một đơn vị diện tích, giải quyết lao động nhàn rỗi và tăng thu nhập.

Quá trình triển khai, Dự án tập trung vào 3 nội dung chủ yếu, bao gồm: Xây dựng mô hình trình diễn, đào tạo nhân rộng mô hình, thông tin tuyên truyền. Kết quả dự án đạt được như sau:

- Xây dựng 106 điểm trình diễn nuôi cá lúa với quy mô 73ha (đạt 100% kế hoạch), trong đó có 60% mô hình được triển khai tại các xã xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh: Bắc Giang, Hà Nam, Tiền Giang, Hậu Giang, Long An, Bắc Ninh, Phú Thọ. Kết quả: Mô hình nuôi xen canh (triển khai tại 3 tỉnh: Bắc Giang, Phú Thọ, Tuyên Quang), sản lượng kế hoạch 1,5 tấn/ha trở lên, kết quả đạt trên 1,67 tấn/ha, năng suất lúa tăng hơn so với ngoài mô hình trên 10%. Mô hình nuôi luân canh (triển khai tại 7 tỉnh: Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nam, Ninh Bình, Long An, Tiền Giang, Hậu Giang, Hà Nội, Hưng Yên), sản lượng kế hoạch 5 tấn/ha trở lên đối với mô hình nuôi rô phi là chính, kết quả đạt 7,12 tấn/ha; năng suất 7 tấn/ha trở lên đối với mô hình nuôi cá rô đồng và sặc rằn là chính, kết quả đạt 9,35 tấn/ha.

Đồng thời tổ chức tập huấn cho 660 người trong mô hình, 1.100 người tham gia tổng kết mô hình. Có 600 người được tập huấn nhân rộng mô hình, có khả năng độc lập áp dụng mô hình nuôi cá - lúa cho gia đình mình.

- Dự án cũng xây dựng 1.800 tờ rơi và 1 cuốn sách kỹ thuật nuôi cá - lúa, 22 bài tuyên truyền trên đài phát thanh địa phương, 2 đĩa hình kỹ thuật nuôi cá lúa được phát trên kênh VTC 16 để tuyên truyền cho bà con nông dân học tập và làm theo.

- Việc các đơn vị dự án nhánh cung ứng con giống, thức ăn, vật tư cho các hộ tham gia xây dựng mô hình trình diễn theo đúng quy định, đảm bảo tiến độ, đồng thời có sự giám sát chặt chẽ của Sở Nông nghiệp và PTNT về chất lượng và số lượng.

Hiệu quả kinh tế của dự án

- Năng suất lúa ở ruộng nuôi cá lúa tăng trên 10% so với ruộng không nuôi cá; năng suất cá thu được đối với nuôi xen canh trong kế hoạch 1,5 tấn/ha, thực tế đạt được 1,67 tấn/ha. Ruộng nuôi luân canh đạt 8,23 tấn/ha, tăng gần 3 lần so với hộ ngoài mô hình. Lợi nhuận trung bình thu được đối với hình thức nuôi xen canh là 40 triệu đồng/ha; nuôi luân canh là 80 triệu đồng/ha.

- Giảm công làm cỏ lúa, giảm phân bón, giảm thuốc bảo vệ thực vật, giảm công làm đất vụ sau từ 10 - 12 triệu đồng/ha. Mô hình cá - lúa ở Phú Thọ giảm phân bón (phân NPK + phân chuồng) 170.000 đồng/sào, thuốc bảo vệ thực vật giảm 30.000 đồng/sào, công làm cỏ giảm 240.000 đồng/sào; Hà Nam, Bắc Ninh tiết kiệm 100% thuốc bảo vệ thực vật, tương ứng với 90.000 đồng/sào, phân bón giảm 50-70%.

- Mô hình nuôi luân canh cá - lúa đối tượng cá rô đồng là chính đã đạt kết quả khá, việc nuôi cá luân canh với cấy lúa, sử dụng thức ăn công nghiệp đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo ra phương pháp nuôi mới trong nuôi cá nước ngọt tại các vùng cấy lúa năng suất thấp, kém hiệu quả. Tại Bắc Ninh, sau hơn 6 tháng nuôi cá đạt năng suất 10,6 tấn/ha, lợi nhuận trên 80 triệu đồng/ha. Nhờ kết quả đó mà phong trào nuôi trồng thuỷ sản của Bắc Ninh đã nhân rộng nhanh tại các vùng có tiềm năng để phát triển mô hình này trong địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận, sau 2 năm triển khai với 6 ha mô hình, năm 2013 đã nhân rộng được 102 ha.

Thu hoạch cá tại mô hình triển khai ở tỉnh Tiền Giang
 

Hiệu quả nổi bật dự án: tại các khu vực có diện tích ruộng trũng vốn không thể cấy trồng vào mùa ngập úng, không thể trồng được cây vụ đông và không khai thác hết tiềm năng của đất, mặt nước, thì việc nuôi luân canh cá – lúa đã góp phần tăng vụ sản xuất trên cùng một diện tích, từ đó tăng thu nhập cho nông dân, giảm được công làm đất, thuốc bảo vệ thực vật, tăng năng suất lúa là điều rất quan trọng hiện nay.

Hiệu quả xã hội của dự án

- Cung cấp cho thị trường sản phẩm cá chất lượng tốt, an toàn vệ sinh thực phẩm; tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập, góp phần nâng cao đời sống cho hộ tham gia mô hình, thúc đẩy phong trào nuôi cá tại địa phương.

- Thông qua dự án người dân nâng cao được cả năng suất cá và lúa, tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích theo hướng bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái tốt hơn.

- Nâng cao trình độ chuyên môn, kinh nghiệm về chỉ đạo, hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra giám sát và đánh giá trong triển khai mô hình cho cán bộ kỹ thuật các địa phương và chủ nhiệm dự án.

- Giảm thiểu ô nhiễm môi trường, môi sinh do hạn chế được thuốc bảo vệ thực vật (riêng mô hình tại Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Phòng không phun thuốc bảo vệ thực vật); giảm phân hóa học…; bảo vệ sức khỏe cho người lao động do việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật; sản xuất sản phẩm đạt chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo quy định hiện hành.

Bài học rút ra từ dự án

- Khâu chọn hộ và địa điểm nuôi rất quan trọng, đây cũng là yếu tố quyết định tới thành công và hiệu quả của mô hình do vậy việc chọn hộ phải đủ tiêu chuẩn và điều kiên nuôi cá lúa.

- Cán bộ kỹ thuật chỉ đạo mô hình phải giỏi chuyên môn, nhiều kinh nghiệm, đi sâu, đi sát, có uy tín, cùng nông dân tháo gỡ khó khăn thì hiệu quả mô hình sẽ cao và được nhân rộng nhanh hơn.

- Có sự ủng hộ và sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo địa phương, các tổ chức đoàn thể.

- Diện tích mương bao chiếm 10% diện tích ruộng là phù hợp với mô hình.

- Đất đắp bờ ao có thể tận dụng trồng chuối (Hưng Yên), trồng bí đỏ, dưa leo (Hậu Giang), đu đủ (Hà Nội) góp phần tăng thêm thu nhập cho chủ hộ từ 20 – 30 triệu đồng/ha.

- Thả cá đúng thời vụ, chọn đúng kích cỡ quy định, đối với cá rô phi, cá chép, cá sặc rằn tốt nhất 6-7cm; cá trôi, mè 8-12cm; riêng mô hình nuôi luân canh một vụ lúa - vụ cá nên thả thêm cá trắm cỏ để nâng cao hiệu quả mô hình.

- Chọn nơi chủ động nguồn nước, cứ 20-30 ngày dâng nước lên ngập 2/3 cây lúa trong một đêm để cá ăn sâu bọ và địch hại, hạn chế không cần dùng thuốc bảo vệ thực vật (kinh nghiệm của Hà Nam, Bắc Ninh, Hải Phòng).

Thực tế cho thấy bên cạnh những lợi ích mang lại, dự án cũng còn những hạn chế như giá giống và vật tư tăng cao, không ổn định; giá bán sản phẩm bấp bênh và còn bị tư thương ép giá;

- Ruộng manh mún, hộ dân có nhiều thửa nhỏ nên áp dụng nuôi cá lúa rất khó;

- Nguồn nước ngày càng ô nhiễm nên chí phí tăng do phải sử dụng chế phẩm sinh học và chất xử lý cải tạo môi trường.

Tuy nhiên, với ưu điểm của mô hình là sự hỗ trợ lẫn nhau tạo nên hệ sinh thái khép kín, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón cho lúa và giảm lượng thức ăn cho cá nhưng lúa vẫn cho đảm bảo năng suất, cá phát triển nhanh, qua đó tăng hiêụ quả sản xuất trên một đơn vị diện tích, tạo thu nhập thêm cho người dân. Đồng thời, sản phẩm tạo ra từ dự án là sản phẩm an toàn cho con người và môi trường. Từ đây có thể nói, dự án mở ra triển vọng nâng cao thu nhập nông dân, cải thiện môi trường sinh thái nên khả năng duy trì và phát triển nhân rộng mô hình rất lớn để cải thiện đời sống nông hộ, xóa đói giảm nghèo. với nuôi theo phương pháp truyền thống nên được địa phương và người dân đánh giá cao. 

 

Kim Văn Tiêu - TTKNQG
Nguồn: khuyennongvn.gov.vn

 





 



Switch mode views: